Hướng dẫn quyết toán thuế TNCN cho giám đốc người nước ngoài

Nếu người lao động nước ngoài là công dân của quốc gia, vùng lãnh thổ đã ý kết Hiệp định với Việt Nam về tránh đánh thuế hai lần và ngăn ngừa việc trốn lậu thuế đối với các loại thuế đánh vào thu nhập làm việc từ tháng 01/2015 đến tháng 06/2015 thuộc đối tượng cư trú thì theo điểm e.2, khoản 2, Điều 26 Thông tư số 111/2013/TT-BTC của Bộ Tài chính quy định cá nhân cư trú là người nước ngoài kết thúc hợp đồng lao động làm việc tại Việt Nam thực hiện quyết toán với cơ quan thuế trước khi xuất cảnh. Nếu người lao động nước ngoài thuộc đối tượng không cư trú, Công ty thực hiện khấu trừ 20% thu nhập nhập chịu thuế và khi thực hiện quyết toán thuế TNCN khai vào mẫu 05-2/KK-TNCN.

chi-phi-lai-vay

Trong khi đó, đối với trường hợp Giám đốc công ty là người nước ngoài và thuộc đối tượng “Cá nhân cư trú”, có thu nhập tiền lương, tiền công tại công ty Việt Nam và thu nhập phát sinh tại Nhật Bản, thì theo lý giải của Tổng cục Thuế, cá nhân này có nghĩa vụ kê khai, nộp thuế, quyết toán TNCN theo quy định và không thuộc trường hợp được ủy quyền cho Công ty quyết toán thuế TNCN thay.

Do vậy, cá nhân người nước ngoài phải tự quyết toán TNCN theo mẫu hồ sơ ban hành kèm theo Thông tư số 92/2015/TT-BTC ngày 15/06/2015 của Bộ Tài chính. Theo đó, hồ sơ quyết toán thuế TNCN bao gồm: Tờ khai quyết toán thuế mẫu số 02/QTT-TNCN; Phụ lục mẫu số 02-1/BK-QTT-TNCN nếu có đăng ký giảm trừ gia cảnh cho người phụ thuộc; Bản chụp các chứng từ chứng minh số thuế đã khấu trừ, đã tạm nộp trong năm, số thuế đã nộp ở nước ngoài (nếu có). Cá nhân cam kết chịu trách nhiệm về tính chính xác của các thông tin trên bản chụp đó; Tài liệu chứng minh thu nhập nhận được do đơn vị, tổ chức ở nước ngoài chi trả.

Đối với trường hợp là người nước ngoài, làm việc trong doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài tại khu công nghiệp, thường xuyên đi công tác nước ngoài có khi vài tháng mới về Việt Nam, theo đại diện Tổng cục Thuế, vẫn đối tượng phải nộp thuế TNCN theo quy định của Luật Thuế TNCN, cụ thể:

Thứ nhất, nếu thời gian người nước ngoài có mặt ở Việt Nam từ 183 ngày trở lên thì theo quy định tại Điểm a Khoản 2 Điều 2 Luật thuế TNCN thì thuộc đối tượng phải nộp thuế TNCN. dịch vụ hoàn thiện làm bctc năm

Thứ hai, nếu người nước ngoài có thời gian đi công tác nước ngoài vài tháng dẫn đến thời gian có mặt tại Việt Nam dưới 183 ngày nhưng là người có nơi ở thường xuyên tại Việt Nam (ở cùng người thân hoặc thuê nhà tại Việt Nam) thì thuộc đối tượng là cá nhân cư trú tại Việt Nam theo quy định tại Điểm b Khoản 2 Điều 2 Luật thuế TNCN nên phải đóng thuế TNCN.

Thứ ba, nếu người nước ngoài có thời gian đi công tác nước ngoài vài tháng dẫn đến thời gian có mặt tại Việt Nam dưới 183 ngày và cũng không có nơi ở thường xuyên tại Việt Nam (như không ở cùng nhà với vợ hoặc chồng, không thuê nhà ở Việt Nam, mỗi khi ở Việt Nam thì ở khách sạn, nhà khách, trụ sở cơ quan…), do đó thuộc đối tượng là cá nhân không cư trú tại Việt Nam nhưng do có thu nhập (lương) từ doanh nghiệp đặt tại Việt Nam (đây là thu nhập chịu thuế phát sinh trong lãnh thổ Việt Nam) theo quy định tại Khoản 1 Điều 2 Luật thuế TNCN nên vẫn phải đóng thuế TNCN.

Điểm mới về miễn thuế TNCN đối với người nước ngoài

Mới đây, theo đề nghị của Bộ Tài chính, Thủ tướng Chính phủ cũng đã ký ban hành quyết định miễn thuế TNCN đối với chuyên gia nước ngoài thực hiện chương trình, dự án viện trợ phi chính phủ nước ngoài tại Việt Nam,áp dụngkể từ ngày 1/5/2016.Thu nhập miễn thuế của chuyên gia nước ngoài trong trường hợp này là thu nhập trực tiếp thực hiện các hoạt động của chương trình, dự án viện trợ phi chính phủ nước ngoài.

Theo đó,Quyết định số 06/2016/QĐ-TTg quy định *miễn thuế TNCN đối với người nước ngoài đối với chuyên gia nước ngoài được tuyển chọn để trực tiếp thực hiện các hoạt động của chương trình, dự án viện trợ phi chính phủ nước ngoài, trên cơ sở thống nhất giữa tổ chức phi chính phủ nước ngoài và cơ quan chủ quản dự án của Việt Nam quy định tại văn kiện chương trình, dự án đã được phê duyệt theo quy định của pháp luật về quản lý và sử dụng viện trợ phi chính phủ nước ngoài.

Tuy nhiên, để được hưởng chính sách ưu đãi này, chuyên gia nước ngoài cũng phải đáp ứng được các điều kiện như: Có quốc tịch nước ngoài; Có hợp đồng ký giữa chuyên gia nước ngoài với tổ chức phi chính phủ nước ngoài hoặc với cơ quan chủ quản dự án hoặc với chủ khoản viện trợ phi chính phủ nước ngoài của Việt Nam trực tiếp thực hiện các hoạt động của chương trình, dự án viện trợ phi chính phủ nước ngoài theo văn kiện chương trình, dự án đã được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt và điều khoản giao việc (TOR) cho chuyên gia nước ngoài đính kèm hợp đồng.

Riêng hợp đồng ký giữa chuyên gia nước ngoài với tổ chức phi chính phủ nước ngoài phải bổ sung xác nhận của chủ khoản viện trợ phi chính phủ của Việt Nam về việc chuyên gia nước ngoài trực tiếp thực hiện các hoạt động của chương trình, dự án viện trợ phi chính phủ nước ngoài theo văn kiện chương trình, dự án đã được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt. dịch vụ rà soát sổ sách kế toán
Công ty dịch vụ kế toán Hà Nội
Chuyên cung cấp các loại dịch vụ kế toán như : 

Hotline: Mr Quân 0974 975 029 – 0941 900 994 Hỗ trợ: 24/7
By quandao05 Posted in 1112

Các trường hợp được phép hủy hóa đơn và quy trình xử lý

Bài viết hướng dẫn quy định về các trường hợp được phép hủy hóa đơn, hồ sơ và cách xử lý trong thực tế của kế toán

chi-phi-lai-vay

  1. Trường hợp 1: Hóa đơn đã in nhưng chưa đưa vào sử dụng

1.1. Nếu cơ sở in (Công ty in hoặc cơ quan Thuế) hủy hóa đơn: Tức là khi vừa in xong, cơ sở in hoặc doanh nghiệp nhận thấy đã in sai, in trùng hoặc in thừa hóa đơn. Khi đó, cơ sở in và doanh nghiệp phải tiến hành hủy số hóa đơn sai trên.

Trình tự thực hiện như sau:

  1. Đối với Công ty In

Nguyên tắc: hoá đơn đặt in bị in sai, in trùng, in thừa buộc phải hủy trước khi thanh lý Hợp đồng đặt in hoá đơn.

Đối chiếu việc tiêu hủy các bản kẽm và các bản hóa đơn khác đang trong quá trình in (nếu có) với bên đặt in.

Làm Biên bản thanh lý Hợp đồng đặt in hóa đơn;

Tiêu hủy toàn bộ hóa đơn bị in sai, in trùng, in thừa;

  1. Đối với Cơ quan Thuế

Tổng cục Thuế có trách nhiệm quy định quy trình huỷ hoá đơn do Cục Thuế đặt in.

Cơ quan thuế thực hiện hủy hoá đơn do Cục Thuế đặt in đã thông báo phát hành chưa bán hoặc chưa cấp nhưng không tiếp tục sử dụng.

1.2 Nếu tổ chức, hộ kinh doanh, cá nhân hủy hóa đơn

  1. Do thay đổi mẫu hóa đơn, hoá đơn cũ không tiếp tục sử dụng hoặc hết hạn sử dụng hóa đơn.
  2. Trình tự thực hiện như sau

Phải thành lập Hội đồng hủy hoá đơn. Hội đồng huỷ hoá đơn phải có đại diện lãnh đạo, đại diện bộ phận kế toán của tổ chức. Lưu ý: Hộ, cá nhân kinh doanh không phải thành lập Hội đồng hủy hoá đơn.

Các thành viên Hội đồng hủy hoá đơn phải ký vào Biên bản hủy hóa đơn và chịu trách nhiệm trước pháp luật nếu có sai sót.

Phải thông báo với cơ quan thuế thực hiện huỷ hoá đơn.

Phải lập Bảng kiểm kê hoá đơn cần hủy.

Thông báo kết quả hủy hoá đơn đến cơ quan thuế.

Lưu ý: Thông báo kết quả hủy hoá đơn được lập thành 02 bản, 01 bản lưu, 01 bản gửi đến cơ quan thuế quản lý trực tiếp chậm nhất không quá 05 ngày kể từ ngày thực hiện huỷ hoá đơn.

  1. Thời hạn huỷ hoá đơn

– Chậm nhất là 30 ngày, kể từ ngày thông báo với cơ quan thuế.

– Trường hợp cơ quan thuế thông báo hóa đơn hết giá trị sử dụng:

Phải huỷ hoá đơn chậm nhất là 10 ngày, kể từ ngày cơ quan thuế thông báo hoặc từ ngày tổ chức, hộ kinh doanh, cá nhân tìm lại được hoá đơn đã mất;

Trường hợp thông báo do thực hiện biện pháp cưỡng chế nợ thuế, phải hủy ngay.

1.3 Các trường hợp khác

Các loại hoá đơn chưa lập khác: được hủy theo quy định của pháp luật về kế toán.

Các loại hoá đơn chưa lập nhưng là vật chứng của các vụ án: không hủy mà được xử lý theo quy định của pháp luật.

1.4. Hóa đơn được xác định đã hủy

Hóa đơn in thử, in sai, in trùng, in thừa, in hỏng; các bản phim, bản kẽm và các công cụ có tính năng tương tự trong việc tạo hóa đơn đặt in được xác định đã hủy xong khi không còn nguyên dạng của bất kỳ một tờ hoá đơn nào hoặc không còn chữ trên tờ hoá đơn để có thể lắp ghép, sao chụp hoặc khôi phục lại theo nguyên bản.

Hoá đơn tự in được xác định đã hủy xong nếu phần mềm tạo hoá đơn được can thiệp để không thể tiếp tục tạo ra hoá đơn.

  1. Trường hợp 2: Hủy các hóa đơn đã lập

2.1. Nếu hóa đơn chưa giao cho khách hàng

Hóa đơn sai có thể hủy về sau, khi có yêu cầu;

Trình tự hủy hóa đơn làm tương tự mục 1.2.

Trường hợp lập hóa đơn sai nhưng chưa giao cho người mua, kế toán gạch chéo các liên và lưu giữ số hóa đơn lập sai;

2.2. Nếu hóa đơn đã giao cho khách hàng

  1. Các trường hợp được hủy hóa đơn khi đã giao cho khách hàng

Trường hợp cả người bán và người mua chưa kê khai thuế.

Trường hợp người bán giao hóa đơn nhưng chưa giao hàng hóa, cung ứng dịch vụ;

  1. Quy trình xử lý hóa đơn lập sai

Người bán và người mua lập biên bản thu hồi các liên của số hóa đơn đã lập sai. Biên bản thu hồi hóa đơn phải thể hiện được lý do thu hồi hóa đơn;

Người bán gạch chéo các liên, lưu giữ số hóa đơn lập sai và lập lại hóa đơn mới theo quy định;

Hóa đơn sai sẽ được hủy khi có quyết định;

Trình tự hủy hóa đơn giống như mục 1.2.

Lưu ý: Trường hợp hóa đơn lập đã gửi cho khách hàng, 1 trong hai bên hoặc cả 2 bên đã kê khai thuế thì không được hủy bỏ hóa đơn mà phải làm hóa đơn điều chỉnh gửi cho khách hàng.

  1. Hồ sơ hủy hóa đơn

Quyết định thành lập Hội đồng hủy hoá đơn, trừ trường hợp hộ, cá nhân kinh doanh;

Bảng kiểm kê hoá đơn cần hủy;

Biên bản hủy hóa đơn;

Thông báo kết quả hủy hoá đơn (mẫu số 3.11)

Hồ sơ hủy hóa đơn được lưu tại tổ chức, hộ, cá nhân kinh doanh sử dụng hóa đơn.

  1. Ví dụ hủy hóa đơn thực tế

Giữa tháng 6, Kế toán tại công ty Hoa Mai kiểm tra thấy hóa đơn tới tháng 7 là hết hạn sử dụng.

– Kế toán trình Giám đốc công ty sự việc.

– Ngày 20/06/2016, Công ty Hoa Mai gửi Biên bản thanh lý Hợp đồng đặt in hóa đơn cho công ty in Thành Long. Nhận phản hồi từ công ty in.

– Ngày 23/06, Kế toán tập hợp các hóa đơn cần hủy.

– Ngày 25/06, công ty tiêu hủy các hóa đơn được tiêu hủy theo quy định của pháp luật.

– Ngày 30/06, phía Thành Long gửi kết quả hủy các bản in kẽm. Kế toán công ty Hoa Mai xác nhận.

– Hoàn thành công việc hủy hóa đơn hết hạn.
Công ty dịch vụ kế toán Hà Nội
Chuyên cung cấp các loại dịch vụ kế toán như : 

Hotline: Mr Quân 0974 975 029 – 0941 900 994 Hỗ trợ: 24/7
By quandao05 Posted in 1112

Hướng dẫn cụ thể về bảo hiểm thất nghiệp năm 2016

Đối với người lao động, bảo hiểm thất nghiệp vừa giúp đỡ họ ổn định cuộc sống khi bị mất việc làm thông qua việc trả trợ cấp thất nghiệp, vừa tạo cơ hội để họ có thể tiếp tục tham gia thị trường lao động. Tạp chí Tài chính giới thiệu những quy định cụ thể về Bảo hiểm thất nghiệp.

Quy định về Bảo hiểm thất nghiệp (BHTN) năm 2016 mới nhất theo Luật việc làm số 38/2013/QH13 gồm: Đối tượng bắt buộc tham gia bảo hiểm thất nghiệp, mức đóng bảo hiểm thất nghiệp, chế độ hưởng trợ cấp thất nghiệp…

bao-hiem

  1. Về mức đóng BHTN

– Người lao động đóng bằng 1% tiền lương tháng.

– Công ty đóng bằng 1% quỹ tiền lương tháng của những người lao động đang tham gia BHTN.

– Mức tiền lương tháng thấp nhất để tính đóng BHTN là mức lương tối thiểu vùng và mức tối đa là 20 lần mức lương tối thiểu vùng. Xem mức lương tối thiểu vùng tại

  1. Những đối tượng bắt buộc tham gia BHTN

– Người lao động phải tham gia BHTN khi làm việc theo hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc như sau:

+ Hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc không xác định thời hạn;

+ Hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc xác định thời hạn;

+ Hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn từ đủ 03 tháng đến dưới 12 tháng.

– Trong trường hợp người lao động giao kết và đang thực hiện nhiều hợp đồng lao động quy định tại khoản này thì người lao động và người sử dụng lao động của hợp đồng lao động giao kết đầu tiên có trách nhiệm tham gia BHTN.

– Người lao động trên đang hưởng lương hưu, giúp việc gia đình thì không phải tham gia BHTN.

  1. Điều kiện hưởng

Người lao động đang đóng BHTN được hưởng trợ cấp thất nghiệp khi có đủ các điều kiện sau đây:

– Chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc, trừ các trường hợp sau đây:

+ Người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc trái pháp luật;

+ Hưởng lương hưu, trợ cấp mất sức lao động hằng tháng;

– Đã đóng BHTN từ đủ 12 tháng trở lên trong thời gian 24 tháng trước khi chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc đối với trường hợp: Hợp đồng lao động có xác định và không xác định thời hạn.

– Đã đóng BHTN từ đủ 12 tháng trở lên trong thời gian 36 tháng trước khi chấm dứt hợp đồng lao động đối với trường hợp: Hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn từ đủ 03 tháng đến dưới 12 tháng.

– Đã nộp hồ sơ hưởng trợ cấp thất nghiệp tại trung tâm dịch vụ việc làm trong thời hạn 03 tháng, kể từ ngày chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc.

– Chưa tìm được việc làm sau 15 ngày, kể từ ngày nộp hồ sơ hưởng BHTN, trừ các trường hợp sau đây:

+ Thực hiện nghĩa vụ quân sự, nghĩa vụ công an;

+ Đi học tập có thời hạn từ đủ 12 tháng trở lên;

+ Chấp hành quyết định áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc;

+ Bị tạm giam; chấp hành hình phạt tù;

+ Ra nước ngoài định cư; đi lao động ở nước ngoài theo hợp đồng;

+ Qua đời.

  1. Về mức, thời gian, thời điểm hưởng trợ cấp thất nghiệp

– Mức hưởng:

+ Mức hưởng trợ cấp thất nghiệp hằng tháng bằng 60% mức bình quân tiền lương tháng đóng BHTN của 6 tháng liền kề trước khi thất nghiệp.

+ Nhưng tối đa không quá 5 lần mức lương cơ sở đối với người lao động thuộc đối tượng thực hiện chế độ tiền lương do Nhà nước quy định.

+ Hoặc không quá 5 lần mức lương tối thiểu vùng theo quy định của Bộ luật lao động đối với người lao động đóng BHTN theo chế độ tiền lương do công ty quyết định

– Thời gian hưởng: Được tính theo số tháng đóng BHTN, cứ đóng đủ 12 tháng đến đủ 36 tháng thì được hưởng 03 tháng trợ cấp thất nghiệp, sau đó, cứ đóng đủ thêm 12 tháng thì được hưởng thêm 01 tháng trợ cấp thất nghiệp nhưng tối đa không quá 12 tháng.

– Thời điểm hưởng: Thời điểm hưởng trợ cấp thất nghiệp được tính từ ngày thứ 16, kể từ ngày nộp đủ hồ sơ hưởng trợ cấp thất nghiệp theo quy định tại khoản 1 Điều 46 của Luật Việc làm.

PV – Tạp Chí Tài Chính
Công ty dịch vụ kế toán Hà Nội
Chuyên cung cấp các loại dịch vụ kế toán như : 

Hotline: Mr Quân 0974 975 029 – 0941 900 994 Hỗ trợ: 24/7
By quandao05 Posted in 1112

Thủ tục cấp mã số thuế và giảm trừ người phụ thuộc 2016

Trường hợp người phụ thuộc là con từ 18 tuổi trở lên đang đi học, không có thu nhập hoặc có thu nhập bình quân tháng trong năm từ tất cả các nguồn thu nhập không vượt quá 1.000.000 đồng thì giảm trừ người phụ thuộc như thế nào?

chi-phi-lai-vay

  1. Về cấp mã số thuế người phụ thuộc là con trên 15 tuổi

– Tại điểm g, khoản 1, Điều 9 Thông tư số 111/2013/TT-BTC ngày 15/8/2013 của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện Luật Thuế thu nhập cá nhân, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế thu nhập cá nhân và Nghị định số 65/2013/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Thuế thu nhập cá nhân và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế thu nhập cá nhân hướng dẫn:

“g) Hồ sơ chứng minh người phụ thuộc

g.1) Đối với con:

g.1.1) Con dưới 18 tuổi: Hồ sơ chứng minh là bản chụp Giấy khai sinh và bản chụp Chứng minh nhân dân (nếu có).

g.1.2) Con từ 18 tuổi trở lên bị khuyết tật, không có khả năng lao động, hồ sơ chứng minh gồm:

g.1.2.1) Bản chụp Giấy khai sinh và bản chụp Chứng minh nhân dân (nếu có).

g.1.2.2) Bản chụp Giấy xác nhận khuyết tật theo quy định của pháp luật về người khuyết tật.

….”

– Tại Điều 3, Điều 4 Văn bản hợp nhất số 03/VBHN-BCA của Bộ Công an hợp nhất Nghị định về chứng minh nhân dân quy định:

“Điều 3: Đối tượng được cấp Chứng minh nhân dân

  1. Công dân Việt Nam từ đủ 14 tuổi trở lên, đang cư trú trên lãnh thổ Việt Nam (sau đây gọi tắt là công dân) có nghĩa vụ đến cơ quan Công an nơi đăng ký hộ khẩu thường trú làm thủ tục cấp Chứng minh nhân dân theo quy định của Nghị định này.
  2. Mỗi công dân chỉ được cấp một Chứng minh nhân dân và có một số chứng minh nhân dân riêng.

Điều 4. Các đối tượng sau đây tạm thời chưa được cấp Chứng minh nhân dân

  1. Những người đang bị tạm giam, đang thi hành án phạt tù tại trại giam; đang chấp hành quyết định đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc [5], cơ sở cai nghiện bắt buộc [6];
  2. Những người đang mắc bệnh tâm thần hoặc một bệnh khác làm mất khả năng điều khiển hành vi của mình.

Các trường hợp nói ở khoản 1, khoản 2 điều này nếu khỏi bệnh, hết thời hạn tạm giam, thời hạn thi hành án phạt tù hoặc hết thời hạn chấp hành quyết định đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc [7], cơ sở cai nghiện bắt buộc [8] thì được cấp Chứng minh nhân dân.”

Căn cứ các quy định nêu trên thì công dân Việt Nam từ đủ 14 tuổi trở lên, đang cư trú trên lãnh thổ Việt Nam có nghĩa vụ đến cơ quan Công an nơi đăng ký hộ khẩu thường trú làm thủ tục cấp Chứng minh nhân dân (CMND) theo quy định.

Do đó, để đảm bảo tính duy nhất trong quản lý MST NPT, tránh kê khai trùng thì hồ sơ chứng minh người phụ thuộc đối với người phụ thuộc là con trên 15 tuổi bắt buộc phải có bản chụp CMND và khi cấp MST NPT tại ứng dụng quản lý thuế (TMS) đối với người phụ thuộc là con trên 15 tuổi bắt buộc phải nhập số CMND.

Trường hợp người phụ thuộc thuộc diện tạm thời chưa được cấp CMND theo quy định của cơ quan Công an, nên chưa được cấp MST NPT, Tổng cục Thuế sẽ nghiên cứu để có phương án cấp MST NPT đảm bảo yêu cầu quản lý.

Trong thời gian chưa được cấp MST NPT thì người nộp thuế vẫn được tạm tính giảm trừ gia cảnh cho người phụ thuộc theo thực tế. Trường hợp những người phụ thuộc này khỏi bệnh, hết thời hạn tạm giam, thời hạn thi hành án,… Và được cơ quan Công an cấp CMND thì người nộp thuế phải thực hiện bổ sung thông tin đăng ký và hoàn thiện hồ sơ theo quy định để được cấp MST NPT.

  1. Về việc giảm trừ người phụ thuộc là con đang học tại các trường đại học với trình độ sau đại học (thạc sỹ)

– Tại điểm d, khoản 1, Điều 9 Thông tư số 111/2013/TT-BTC ngày 15/8/2013 của Bộ Tài chính hướng dẫn:

“d) Người phụ thuộc bao gồm:

  1. 1.3) Con đang theo học tại Việt Nam hoặc nước ngoài tại bậc học đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp, dạy nghề, kể cả con từ 18 tuổi trở lên đang học bậc học phổ thông (tính cả trong thời gian chờ kết quả thi đại học từ tháng 6 đến tháng 9 năm lớp 12) không có thu nhập hoặc có thu nhập bình quân tháng trong năm từ tất cả các nguồn thu nhập không vượt quá 1.000.000 đồng.”

Căn cứ hướng dẫn nêu trên, trường hợp người phụ thuộc là con đang theo học tại bậc học đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp, dạy nghề, kể cả con từ 18 tuổi trở lên đang học bậc học phổ thông (tính cả trong thời gian chờ kết quả thi đại học từ tháng 6 đến tháng 9 năm lớp 12) không có thu nhập hoặc có thu nhập bình quân tháng trong năm từ tất cả các nguồn thu nhập không vượt quá 1.000.000 đồng thì được tính là người phụ thuộc của người nộp thuế, trường hợp người phụ thuộc là con đang học trình độ thạc sỹ tại các trường đại học thì không thuộc diện được tính là người phụ thuộc của người nộp thuế.

Theo Tạp Chí Tài Chính Tổng Hợp
Công ty dịch vụ kế toán Hà Nội
Chuyên cung cấp các loại dịch vụ kế toán như : 

Hotline: Mr Quân 0974 975 029 – 0941 900 994 Hỗ trợ: 24/7
By quandao05 Posted in 1112

Quy định về khoản chi mang tính phúc lợi và tài khoản sử dụng

Quy định về khoản chi mang tính phúc lợi và tài khoản sử dụng

Ông Nguyễn Bình (Hà Nội) hỏi, các khoản chi có tính chất phúc lợi quy định tại Điểm 2.30, Khoản 2, Điều 4 Thông tư số 96/2015/TT-BTC của Bộ Tài chính là những khoản chi nào? Tiêu chí phân loại khoản chi phúc lợi với các khoản chi khác là gì?

Về vấn đề này, Cục Thuế Hà Nội có ý kiến như sau:

Căn cứ Thông tư số 96/2015/TT-BTC ngày 22/6/2015 của Bộ Tài chính hướng dẫn về thuế thu nhập doanh nghiệp tại Nghị định số 12/2015/NĐ-CP ngày 12/2/2015 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của các Luật về thuế và sửa đổi bổ sung một số điều của các Nghị định về thuế và sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 78/2014/TT-BTC ngày 18/6/2014, Thông tư số 119/2014/TT-BTC ngày 25/8/2014, Thông tư số 151/2014/TT-BTC ngày 10/10/2014 của Bộ Tài chính quy định:

chi-phi-lai-vay

Quy định các khoản chi có tính chất phúc lợi

Tại Điều 4 sửa đổi, bổ sung Điều 6 Thông tư số 78/2014/TT-BTC (đã được sửa đổi, bổ sung tại Khoản 2 Điều 6 Thông tư số 119/2014/TT-BTC và Điều 1 Thông tư số 151/2014/TT-BTC) như sau:

“Điều 6. Các khoản chi được trừ và không được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế

  1. Trừ các khoản chi không được trừ nêu tại Khoản 2 Điều này, doanh nghiệp được trừ mọi khoản chi nếu đáp ứng đủ các điều kiện sau:
  2. a) Khoản chi thực tế phát sinh liên quan đến hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp.
  3. b) Khoản chi có đủ hoá đơn, chứng từ hợp pháp theo quy định của pháp luật.
  4. c) Khoản chi nếu có hoá đơn mua hàng hoá, dịch vụ từng lần có giá trị từ 20 triệu đồng trở lên (giá đã bao gồm thuế GTGT) khi thanh toán phải có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt.

Chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt thực hiện theo quy định của các văn bản pháp luật về thuế giá trị gia tăng…

  1. Các khoản chi không được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế bao gồm:…

2.30. Các khoản chi không tương ứng với doanh thu tính thuế, trừ các khoản chi sau:…

– Khoản chi có tính chất phúc lợi chi trực tiếp cho người lao động như: chi đám hiếu, hỷ của bản thân và gia đình người lao động; chi nghỉ mát, chi hỗ trợ điều trị; chi hỗ trợ bổ sung kiến thức học tập tại cơ sở đào tạo; chi hỗ trợ gia đình người lao động bị ảnh hưởng bởi thiên tai, địch họa, tai nạn, ốm đau; chi khen thưởng con của người lao động có thành tích tốt trong học tập; chi hỗ trợ chi phí đi lại ngày lễ, tết cho người lao động; chi bảo hiểm tai nạn, bảo hiểm sức khỏe, bảo hiểm tự nguyện khác cho người lao động (trừ khoản chi mua bảo hiểm nhân thọ cho người lao động hướng dẫn tại điểm 2.6, bảo hiểm hưu trí tự nguyện cho người lao động hướng dẫn tại điểm 2.11 Điều này) và những khoản chi có tính chất phúc lợi khác. Tổng số chi có tính chất phúc lợi nêu trên không quá 01 tháng lương bình quân thực tế thực hiện trong năm tính thuế của doanh nghiệp…”.

Về chế độ kế toán doanh nghiệp

Căn cứ Điều 63 Thông tư số 200/2014/TT-BTC ngày 22/12/2014 của Bộ Tài chính hướng dẫn chế độ kế toán doanh nghiệp:

“Điều 63. Tài khoản 353 – Quỹ khen thưởng, phúc lợi

  1. Nguyên tắc kế toán

a)… Quỹ khen thưởng, quỹ phúc lợi được trích từ lợi nhuận sau thuế TNDN của doanh nghiệp để dùng cho công tác khen thưởng, khuyến khích lợi ích vật chất, phục vụ nhu cầu phúc lợi công cộng, cải thiện và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của người lao động…”.

Căn cứ các quy định nêu trên, các khoản chi có tính chất phúc lợi theo quy định tại Điểm 2.30, Khoản 2, Điều 4 Thông tư số 96/2015/TT-BTC là các khoản chi trực tiếp cho người lao động ngoài các khoản chi lương thưởng đã thỏa thuận và phù hợp với quy định của pháp luật, nhằm cải thiện, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho người lao động.

Khoản chi có tính chất phúc lợi để xác định chi phí được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế thu nhập doanh nghiệp là các khoản chi đáp ứng quy định tại Khoản 1, Điều 4 Thông tư số 96/2015/TT-BTC nêu trên và tổng số chi có tính chất phúc lợi không quá 1 tháng lương bình quân thực tế thực hiện trong năm tính thuế của doanh nghiệp.

Trường hợp còn vướng mắc, đề nghị ông liên hệ với cơ quan thuế quản lý trực tiếp để được giải đáp cụ thể.

Chinhphu.vn
Công ty dịch vụ kế toán Hà Nội
Chuyên cung cấp các loại dịch vụ kế toán như : 

Hotline: Mr Quân 0974 975 029 – 0941 900 994 Hỗ trợ: 24/7
By quandao05 Posted in 1112

Những phương pháp sử dụng chính sách kế toán để quản trị lợi nhuận

Việc kế toán sử dụng các kiến thức về các nguyên tắc, chuẩn mực, phương pháp kế toán, để điều chỉnh các con số được trình bày trên BCTC của một doanh nghiệp được gọi là “Kế toán sáng tạo”. Tại Việt Nam, hành vi này thường được gọi là “ Quản trị lợi nhuận”. Khi nói đến hành vi này, mọi người thường nghĩ nó mang tính chất tiêu cực, nhưng điều này có thực sự đúng như vậy không?

Thực ra khái niệm này đã tồn tại từ rất lâu, và là đại dương vô tận cho những người hành nghề Kế toán, kiểm toán chuyên nghiệp muốn khám phá nó một cách thực sự.

chi-phi-lai-vay

Creative Accounting là việc vận dụng một cách linh hoạt và sáng tạo các kỹ thuật trong kế toán, hay còn gọi là các “thủ thuật”, để “biến tấu” thông tin trên báo cáo tài chính nhằm tác động đến nhận thức của người đọc BCTC.

Theo Charles W.Mulford và Eugene E.Comiskey (2002) cho rằng, Kế toán sáng tạo là sự lựa chọn có chủ ý các quy định kế toán nhằm thao túng lợi nhuận, để hướng tới mục tiêu bởi các cấp quản lý hoặc để làm lợi nhuận trở nên đẹp hơn.

Có thể hình dung Kế toán sáng tạo(Creative Accounting) : bao gồm tất cả các thủ thuật từ Aggressive Accounting, Earning Mannagement, Income Smoothing:

Kế toán cứng (Aggressive Accounting) : Những sự lựa chọn có chủ ý các hoạt động kế toán dựa trên các nguyên lý kế toán nhằm mục đích đạt được kết quả mong muốn, dựa trên GAAP.

Quản lý lợi nhuận( Earning Management ) : Những thao túng lợi nhuận để hướng tới một mục tiêu đã được trước được thực hiện bởi các cấp quản lý và các nhà phân tích của công ty, hoặc để làm lợi nhuận trở nên đẹp hơn.

Làm mềm lợi nhuận( Income Smoothing): Một dạng của Earrning Management được tạo ra để tránh những lên xuống bất thường của thu nhập nói cách khác là làm đẹp thu nhập, hoặc làm giảm thu nhập những năm thu nhập cao nhằm dự trữ cho những năm thu nhập kém.

Gian lận báo cáo ( Fraudunt Reporting) : Cố ý sai sót trọng yếu hoặc thiếu sót trong các báo cáo tài chính nhằm đánh lừa người sử dụng báo cáo.

Như vậy, dù có tên gọi khác nhau là Kế toán sáng tạo hay Quản trị lợi nhuận, thì đó là việc làm thay đổi số liệu lợi nhuận, được thực hiện thông qua hành vi điều chỉnh doanh thu và chi phí bằng công cụ kế toán. Tùy thuộc vào từng quy định kế toán được ban hành, nó có thể ngăn chặn cũng như mở ra một cách mới để nhà quản trị đạt được mục tiêu lợi nhuận.

Nội dung và phương pháp thực hiện kế toán sáng tạo

Việc thực hiện kế toán sáng tạo đế điều chỉnh lợi nhuận của DN rất phong phú. Các phương pháp kế toán về doanh thu, vốn hóa, ghi nhận tài sản hay nợ phải trả có thể làm thay đổi những con số trên BCTC:

(1) Lựa chọn phương pháp kế toán ảnh hưởng đến thời điểm ghi nhận doanh thu và chi phí

Lựa chọn phương pháp kế toán có ảnh hưởng đến thời điểm ghi nhận doanh thu và chi phí (và kết quả là ảnh hưởng đến thời điểm ghi nhận lợi nhuận). Lựa chọn một (hoặc một số) phương pháp kế toán cho phép ghi nhận doanh thu sớm hơn và chuyển dịch ghi nhận chi phí về sau sẽ làm tăng lợi nhuận báo cáo trong kỳ và ngược lại. Trong chế độ kế toán DN, tồn tại một số phương pháp có thể được vận dụng để ghi nhận doanh thu, chi phí:

Phương pháp phần trăm hoàn thành để ghi nhận doanh thu và chi phí trong hoạt động cung cấp dịch vụ và hợp đồng xây dựng. Phương pháp này cho phép DN ghi nhận mức doanh thu lớn hơn hoặc nhỏ hơn thực tế theo tỷ lệ ước tính tiến độ thực hiện hợp đồng;

Phương pháp xác định giá trị hàng tồn kho (bình quân, nhập trước-xuất trước, đích danh) ảnh hưởng đế ghi nhận giá vốn hàng bán trong kỳ, và từ đó, ảnh hưởng đến lợi nhuận báo cáo trong kỳ;

Lựa chọn phương pháp khấu hao tài sản cố định. Mỗi một phương pháp khấu hao (đường thẳng, tỷ lệ sử dụng, số dư giảm dần có điều chỉnh) cho chi phí khấu hao khác nhau. Từ đó, ảnh hưởng đến lợi nhuận trong kỳ.

(2) Lựa chọn thời điểm mua hoặc bán tài sản

Lựa chọn thời điểm mua hay thanh lý, nhượng bán tài sản cố định cũng có ảnh hưởng đến lợi nhuận kế toán. Nhà quản trị DN có thể quyết định khi nào và mức độ các chi phí quảng cáo, chi phí sửa chữa, nâng cấp cải tạo tài sản cố định được chi ra. Nhà quản trị cũng có thể quyết định thời điểm thanh lý, nhượng bán tài sản cố định để đẩy nhanh hoặc làm chậm lại việc ghi nhận lợi nhuận hay thua lỗ hoạt động khác. Đẩy nhanh hay làm chậm lại việc gửi hàng cho khách hàng vào thời điểm gần cuối niên độ cũng có ảnh hưởng đến chỉ tiêu lợi nhuận báo cáo trong kỳ.

(3) Lựa chọn thời điểm ghi nhận chi phí và các ước tính kế toán

Chế độ kế toán cũng cho phép DN được phép vận dụng các phương pháp kế toán thông qua việc lựa chọn thời điểm ghi nhận chi phí. Nhà quản trị quyết định chuyển dịch về sau (hoặc ghi nhận sớm hơn) một số loại chi phí sẽ làm giảm (hoặc tăng) chi phí của niên độ hiện hành. Các loại chi phí có thể chuyển dịch thời điểm ghi nhận bao gồm: chi phí bảo hiểm hỏa hoạn, giá trị công cụ, dụng cụ phân bổ nhiều kỳ, chi phí sửa chữa lớn tài sản cố định, chi phí quảng cáo, chi phí bảo hành sản phẩm. Những loại chi phí này có thể được ghi nhận vào niên độ phát sinh hoặc phân bổ cho một số kỳ (dựa vào nguyên tắc phù hợp).

Nhà quản trị DN có thể lựa chọn thời điểm và cách thức ghi nhận các sự kiện có liên quan đến chỉ tiêu lợi nhuận trong kỳ. Chẳng hạn, thời điểm và mức dự phòng cần lập của hàng tồn kho, của chứng khoán và phải thu khó đòi; thời điểm các khoản dự phòng này được hoàn nhập hay xóa sổ và mức hoàn nhập. DN cũng có thể ước tính (trích trước) một số chi phí như chi phí bảo hành sản phẩm, chi phí bảo hành công trình xây lắp, ước tính tỷ lệ hoàn thành hợp đồng xây lắp và cung cấp dịch vụ để ghi nhận doanh thu và chi phí, ước tính tỷ lệ lãi suất ngầm ẩn của hợp đồng thuê tài sản để vốn hóa tiền thuê trong một hợp đồng thuê tài chính. Ước tính thời gian sử dụng hữu ích của TSCĐ cũng có thể được thực hiện để điều chỉnh chi phí khấu hao (mặc dù phạm vi không lớn).

Kết luận

(1) Xét về góc độ tiêu cực: Khi sử dụng kế toán sáng tạo với mục đích không tích cực, nó có thể là công cụ cho những kẻ tham nhũng hoặc che dấu hoạt động kinh doanh đang giảm sút của công ty. Có thể kể đến một số hành vi như:

Tăng khả năng huy động vốn của DN, hoặc để thuyết phục nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư vào DN hay khi đi vay các tổ chức tín dụng, nhà quản lý đã tìm cách điều chỉnh lợi nhuận để huy động vốn với chi phí thấp hơn. Từ đó sẽ dẫn tới DN sẽ có các hành vi điều chỉnh lợi nhuận để tránh vi phạm các điều khoản

Tránh bị điều chỉnh từ các cơ quan nhà nước, như buộc giảm giá bán sản phẩm hay bị áp giá sàn trong một số thời điểm cụ thể; các công ty (Điện lực, Xăng dầu…) thường có xu hướng lựa chọn các phương pháp kế toán làm giảm lợi nhuận.

Đạt được các lợi ích cá nhân (như thưởng, tăng lương, vị trí đang có…) mà giám đốc có thể được hưởng nhiều quyền lợi hoặc sở hữu nhiều cổ phiếu, Giám đốc DN có thể điều chỉnh lợi nhuận tăng để đạt mục đích của mình.

Giảm các khoản thuế phải nộp nhà nước; DN sẽ báo các lợi nhuận kế toán ở mức thấp để giảm số thuế phải nộp

Từ đó việc thực hiện Kế toán sáng tạo có thể gây hại không nhỏ cho nhà nước, các nhà đầu tư và nền kinh tế đất nước.

(2) Xét về gọc độ tích cực: Bản thân việc thực hiện Kế toán sáng tạo không phải là hành vi tiêu cực. Nó chỉ mang ý nghĩa tiêu cực khi động cơ của việc thực hiện là nhằm tạo ra thông tin sai lệch để đánh lừa những người quan tâm đến BCTC của DN mà thôi. Nó giúp tác động tích cực đến việc kinh doanh của DN và chỉ đúng hướng đầu tư cho các nhà đầu tư trong tương lai. Tùy thuộc vào từng quy định kế toán được ban hành, nó có thể ngăn chặn cũng như mở ra một cách mới để nhà quản trị đạt được mục tiêu lợi nhuận.

Tóm lại, việc vận dụng kế toán sáng tạo trong bài viết là hợp pháp vì kỹ thuật điều chỉnh nằm trong Chế độ kế toán Việt Nam và các quy định hiện hành cho phép. Tuy nhiên trong bối cảnh Việt Nam đã gia nhập TPP và AEC, những đòi hỏi về tính minh bạch tài chính rất cao. Vì vậy chính phủ cần ban hành thêm một số quy định chặt chẽ hơn nữa về việc trình bày BCTC của các công ty, nhất là các công ty niêm yết, nhằm hạn chế thấp nhất mặt tiêu cực của kế toán sáng tạo

Tài liệu tham khảo

[1]. Nguyễn Công Phương (2007), Về tính trung thực của chỉ tiêu lợi nhuận, Tạp chí kế toán số tháng 12/2007

[2]. Nguyễn Công Phương (2009), Kế toán cơ sở dồn tích và quản trị lợi nhuận của DN, Tạp chí kế toán số tháng 4/2009

[3]. GPS.TS Trần Thị Cẩm Thanh (2016), Kế toán sáng tạo: Tích cực hay tiêu cực, Tạp chí kế toán kiểm toán 4/2016

[4]. ThS Phạm Nguyễn Đình Tuấn (2016), Kế toán sáng tạo – Vận dụng trong quản trị lợ nhuận của DN, Tạp chí kế toán kiểm toán 4/2016

Tác giả: ThS. Dương Thị Thanh Hiền – Bộ môn Kế toán quản trị – Trường ĐH Duy Tân
Công ty dịch vụ kế toán Hà Nội
Chuyên cung cấp các loại dịch vụ kế toán như : 

Hotline: Mr Quân 0974 975 029 – 0941 900 994 Hỗ trợ: 24/7
By quandao05 Posted in 1112

Kế toán quản trị hàng tồn kho trong các doanh nghiệp

Hàng tồn kho là bộ phận tài sản lưu động chiếm vị trí quan trọng trong quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Thông tin chính xác và kịp thời về hàng tồn kho giúp doanh nghiệp chỉ đạo kịp thời các nghiệp vụ kinh tế diễn ra hàng ngày, quản lý được các chi phí liên quan đến hàng tồn kho. Để đạt được điều đó, các nhà quản lý phải sử dụng đồng thời nhiều công cụ quản lý khác nhau, trong đó có kế toán quản trị nói chung và kế toán quản trị hàng tồn kho nói riêng. Bài viết sau đây sẽ phán ánh thực trạng về hàng tồn kho trong doanh nghiệp và đưa ra một số giải pháp về nội dung kế toán trị hàng tồn kho trong doanh nghiệp.

hang-ton-kho

Thực trạng kế toán quản trị hàng tồn kho tại các doanh nghiệp

– Thứ nhất, thu thập thông tin về hàng tồn kho: Việc thu thập thông tin về hàng tồn kho tại các doanh nghiệp hiện nay vẫn còn chưa được chặt chẽ. Việc tổ chức chứng từ, tài khoản, sổ sách, báo cáo kế toán phục vụ cho yêu cầu công tác quản trị hàng tồn kho còn hết sức đơn giản, chưa thực sự hỗ trợ cho công tác quản lý hàng tồn kho của doanh nghiệp.

– Thứ hai, xây dựng kế hoạch đặt hàng: Việc lập kế hoạch hàng tồn kho của các DN căn cứ vào lượng tồn kho thực tế tại các kho. Công tác kế hoạch đặt hàng thường được xác định theo nhu cầu số lượng nguyên vật liệu đưa vào sản xuất cho khoảng thời gian là 3 tháng. Thời điểm đặt mua hàng đều do Phòng Kinh doanh báo về Phòng kế toán tài chính khi thấy nguyên vật liệu dùng cho sản xuất sắp hết để được tạm ứng kinh phí mua nguyên vật liệu.

– Thứ ba, xây dựng dự toán hàng tồn kho: Việc lập dự toán hàng tồn kho được căn cứ vào đặc điểm hoạt động sản xuất kinh doanh và yêu cầu quản lý của từng doanh nghiệp, qua nghiên cứu tình hình thị trường và những nhân tố ảnh hưởng đến quá trình sản xuất kinh doanh để lập dự toán về các chỉ tiêu quản lý. Sau khi nghiên cứu tổng hợp, đóng góp ý kiến, sửa chữa, bổ sung hoàn chỉnh và được phê duyệt sẽ trở thành dự toán chính thức.

Hiện nay, công tác lập dự toán hàng tồn kho ở các doanh nghiệp sản xuất còn rất đơn giản, chưa đáp ứng được nhu cầu của các nhà quản lý.

Để lập dự toán hàng tồn kho cuối kỳ hợp lý các doanh nghiệp thường dựa trên phương pháp thống kê kinh nghiệm, đồng thời dựa vào các dự án, các hợp đồng đang thực hiện. Việc xác định số lượng hàng phải đặt mỗi lần, thời điểm đặt hàng và dự trữ mức an toàn đều chủ yếu dựa theo kinh nghiệm dày dạn của các nhà quản lý.

– Thứ tư, xây dựng kế hoạch dự trữ an toàn: Để đảm bảo tiến độ sản xuất và đủ nguyên vật liệu cho quá trình sản xuất, các đội trưởng phân xưởng sản xuất căn cứ vào lượng nguyên vật liệu sản xuất dùng trong một ngày để xác định mức tồn kho nguyên vật liệu đủ đáp ứng sản xuất trong vòng khoảng 3 tuần, sau đó báo lên để kế hoạch mua nguyên vật liệu.

– Thứ năm, phân tích thông tin phục vụ việc ra quyết định quản lý hàng tồn kho

Mục tiêu ban đầu của lãnh đạo các DN sản xuất đặt ra đối với công tác phân tích tài chính nói chung và phân tích hàng tồn kho nói riêng là chỉ dừng lại ở việc đánh giá tổng kết tình hình trong năm thực hiện chứ chưa được sử dụng như một công cụ hữu hiệu để quản lý hoạt động SX-KD. Việc phân tích tài chính chỉ được tiến hành chính thức một lần vào thời điểm cuối năm. Sau khi hoàn thành xong các báo cáo tài chính theo quy định của Bộ Tài chính và nộp cho các cơ quan quản lý Nhà nước, các số liệu kế toán tài chính được tập hợp, sắp xếp và phân loại. Trên cơ sở các thông tin đã xử lý, các DN phân tích tình hình cung cấp, dự trữ, sử dụng hàng tồn kho, từ đó đưa ra các quyết định phục vụ yêu cầu quản lý của DN.

Hiện nay, các DN chưa tổ chức được công tác kế toán quản trị và nếu có thì cũng rất đơn giản, tự phát. Một trong những nguyên nhân đó là các doanh nghiệp hiện nay chưa thực sự coi trọng việc thu thập, xử lý và cung cấp thông tin của kế toán quản trị. Cho đến nay, Nhà nước vẫn chưa có văn bản, thông tư nào hướng dẫn kế toán quản trị đối với các DN.

Giải pháp nhằm hoàn thiện kế toán hàng tồn kho tại các DN sản xuất

– Thứ nhất, lập danh điểm hàng hóa, vật tư: Lập danh điểm hàng hóa , vật tư là quy định cho mỗi thứ hàng hóa, vật tư một ký hiệu riêng (mã số) bằng hệ thống các chữ số (có thể kết hợp với các chữ cái) để thay thế tên gọi, qui cách, kích cỡ của chúng. Danh điểm hàng hóa, vật tư phải được sử dụng thống nhất giữa các bộ phận quản lý liên quan trong doanh nghiệp, nhằm thống nhất trong quản lý đối với từng hàng hóa, vật tư.

– Thứ hai, hoàn thiện việc thu thập thông tin thực hiện yêu cầu quản trị

+ Về chứng từ kế toán: Vận dụng các nguyên tắc, phương pháp về lập, luân chuyển, quản lý và sử dụng chứng từ kế toán phù hợp với điều kiện cụ thể của từng DN. Cụ thể hóa và bổ sung các nội dung cần thiết vào từng mẫu chứng từ kế toán đã được quy định để phục vụ cho việc thu thập thông tin quản trị nội bộ DN…

+ Về tài khoản kế toán: DN căn cứ vào hệ thống tài khoản kế toán do Bộ Tài chính ban hành hoặc được Bộ Tài chính chấp thuận áp dụng cho DN để chi tiết hóa theo các cấp phù hợp với kế hoạch, dự toán đã lập và yêu cầu cung cấp thông tin kế toán quản trị cho các nhà quản lý DN. Tuy nhiên, việc chi tiết hóa các tài khoản phải đảm bảo không được làm sai lệch nội dung, kết cấu và phương pháp ghi chép trên tài khoản…

+ Về sổ kế toán: DN căn cứ vào hệ thống sổ kế toán do Bộ Tài chính ban hành. Việc bổ sung hoặc thiết kế các nội dung của sổ kế toán không được làm sai lệch nội dung các chỉ tiêu đã quy định trên sổ kế toán. Các DN có thể thiết kế các mẫu sổ phù hợp với yêu cầu quản lý theo các loại hàng tồn kho, theo từng bộ phận, từng công việc và các yêu cầu khác của kế toán quản trị.

– Thứ ba, về hoàn thiện việc lập kế hoạch mua hàng

Việc lập kế hoạch mua hàng được thực hiện hàng tháng tại các doanh nghiệp, được lập trên cơ sở các dự toán về nguyên vật liệu sử dụng trong kỳ. Như vậy, doanh nghiệp đảm bảo được nguồn nguyên vật liệu ổn định và hạn chế được việc tăng giá cả. Trên cơ sở nhận thức được việc lập kế hoạch mua hàng, kế toán quản trị xác định việc phải làm đó là ghi chép, tính toán, phản ánh toàn bộ các thông tin liên quan đến hoạt động về hàng mua để phục vụ việc quản trị sản xuất kinh doanh có hiệu quả…

Lượng hàng cần mua vào trong kỳ kế hoạch = Lượng hàng cần cho nhu cầu SX(bán ra) trong kỳ kế hoạch + Lượng hàng cần cho nhu cầu tồn kho cuối kỳ kế hoạch – Lượng hàng tồn kho đầu kỳ kế hoạch

– Thứ tư, hoàn thiện việc lập dự toán hàng tồn kho: Dự toán về hàng tồn kho là một trong những dự toán cơ bản, quan trọng trong hệ thống dự toán của doanh nghiệp, có liên quan mật thiết đến việc xác định các dự toán khác. Do vậy, dự toán về hàng tồn kho cần được xây dựng chính xác, tiên tiến, phù hợp với khả năng, điều kiện của doanh nghiệp. Dự toán hàng tồn kho có ý nghĩa rất lớn trong việc tổ chức, quản lý, sử dụng có hiệu quả vật tư, tiền vốn của doanh nghiệp. Dự toán hàng tồn kho thường được lập hàng năm, phù hợp với năm tài chính, đảm bảo cho việc phân tích, đánh giá.

– Thứ năm, Về định mức hàng tồn kho: Việc xây dựng được định mức hàng tồn kho tối ưu có liên hệ với việc xác định được lượng hàng tối ưu và tiến độ nhập hàng phù hợp; Khi xác định lượng đặt hàng tối ưu còn phải tính đến yếu tố biến động của giá cả thị trường, rủi ro nguồn hàng và việc prhân tích lượng hàng dự trữ an toàn.

– Thứ sáu, Về quyết định tồn kho

Để đi đến quyết định hàng tồn kho DN cần phải tìm hiểu các chi phí gắn với hàng tồn kho, cụ thể:

– Chi phí mua hàng tồn kho bao gồm các chi phí phát sinh trong quá trình mua như chi phí đặt hàng, chi phí vận chuyển, bốc dỡ, chi phí giao nhận hàng…

– Chi phí bảo quản hàng tồn kho gồm chi phí tiền lương nhân viên bảo quản, tiền thuê kho bãi, bảo quản chống trộm và cháy, chi phí sổ sách, hao hụt định mức…

– Chi phí do thiếu hàng tồn kho làm cho quá trình SX-KD bị gián đoạn.

Khi quyết định tồn kho phải quan tâm đến hai vần đề sau: Phải xác định lượng hàng tồn kho ở mức nào cần phải mua thêm; và phải xác định lượng hàng mua trong một lần mua thêm.

Nếu mua đủ nhu cầu và đúng định mức cần mua thêm sẽ làm giảm tối đa chi phí hàng tồn kho. Trong trường hợp hàng đặt nhận được không chậm trễ hoặc quá trình sản xuất đúng như dự kiến lượng hàng sản xuất cho mỗi ngày thì không cần thiết phải có lượng hàng tồn kho an toàn.

– Thứ bảy, Về lập báo cáo kế toán quản trị

Báo cáo hàng tồn kho là một trong những báo cáo kế toán quản trị phản ánh một cách chi tiết tình hình hàng tồn kho của DN theo từng loại, từng thứ hàng phục vụ cho yêu cầu quản trị kinh doanh. Ban quản trị thường ưu tiên quan tâm đến các vấn đề như quyết định khi nào đặt mua hàng tồn kho (xác định thời gian) và mỗi lần mua thì phải mua bao nhiêu (lượng đặt mua kinh tế nhất). Việc xây dựng biểu mẫu báo cáo cần được đảm bảo các yếu tố cụ thể sau:

– Phản ánh đầy đủ các chỉ tiêu chi tiết, cụ thể do yêu cầu quản trị kinh doanh đặt ra như các khoản mục chi tiết của giá thành hàng mua cho từng loại hàng tồn kho.

– Trong báo cáo phải ghi thông tin kế toán thực tế, đồng thời phải ghi cả số liệu kế hoạch hoặc dự toán làm căn cứ so sánh, đánh giá khi sử dụng thông tin trong báo cáo kế toán nhằm phục vụ cho yêu cầu sử dụng thông tin.

Tóm lại, kế toán quản trị hàng tồn kho là một công cụ hữu ích giúp cho các nhà quản trị doanh nghiệp quản lý tốt hàng tồn kho trong doanh nghiệp. Doanh nghiệp cần quan tâm hơn nữa vì nó cung cấp thông tin một cách chi tiết và có kế hoạch để giúp doanh nghiệp thuận tiện hơn trong việc quản lý hàng tồn kho.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1] PGS.TS. Phạm Văn Dược – Đặng Kim Cương, (2007), Kế toán quản trị, Nhà xuất bản thống kê.

[2] Bộ Tài Chính (2006), Thông tư số 53/2006/TT-BTC, Hướng dẫn áp dụng kế toán quản trị trong doanh nghiệp, Hà Nội.

[3] PGS.TS. Phạm Văn Dược – TS. Huỳnh Lợi, (2009), Mô hình và cơ chế vận hành kế toán quản trị, Nhà xuất bản tài chính.

Tác giả: ThS.Nguyễn Thị Hồng Sương Khoa kế toán- Trường Đại Học Duy Tân
Công ty dịch vụ kế toán Hà Nội
Chuyên cung cấp các loại dịch vụ kế toán như : 

Hotline: Mr Quân 0974 975 029 – 0941 900 994 Hỗ trợ: 24/7
By quandao05 Posted in 1112

6 chiêu gian lận thuế qua hoạt động chuyển giá thường gặp

Có nhiều quan niệm khác nhau về chuyển giá, song về cơ bản chuyển giá được hiểu là một hoạt động được sắp đặt trước bởi các chủ thể kinh doanh có mối quan hệ liên kết nhằm làm thay đổi mức giá trong quan hệ mua, bán, trao đổi hàng hóa, dịch vụ, vốn, tài sản (hoặc bất kỳ đối tượng nào của giao dịch) có sự khác biệt so với giá thị trường.

Theo điều 7 nghị định 100/2004/N Đ-CP thì trốn thuế là hành vi của cá nhân, tổ chức vi phạm các quy định của pháp luật về thuế làm giảm số thuế phải nộp hoặc làm tăng số thuế được hoàn hoặc được miễn, giảm.

Theo Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 240: Gian lận là hành vi cố ý do một hay nhiều người trong Ban quản trị, Ban Giám đốc, các nhân viên hoặc bên thứ ba thực hiện bằng các hành vi gian dối để thu lợi bất chính hoặc bất hợp pháp.

Như vậy, gian lận thuế có thể được hiểu là hành vi của cá nhân, tổ chức cố ý làm sai lệch- làm giảm số thuế phải nộp hoặc làm tăng số thuế được hoàn hoặc được miễn, giảm

Các hình thức chuyển giá đang được áp dụng phổ biến trong các DN hiện nay

Kết quả thanh tra của cơ quan thuế cũng cho thấy rằng, cách thức chuyển giá áp dụng ở các DN là khá đa dạng, phức tạp và diễn ra ở nhiều loại hình DN khác nhau

chi-phi-lai-vay

  1. Chuyển giá thông qua việc nâng giá trị vốn góp

Các công ty đa quốc thường định giá cao máy móc thiết bị đầu tư ban đầu. Với suất đầu tư ban đầu cao, hoạt động của DN nước ngoài sẽ không có lãi vì chi phí đầu tư cao thì giá thành cũng cao lên cộng thêm chi phí khấu hao hàng năm; qua đó lợi nhuận thấp xuống và làm cho nhà nước thất thu thuế.

Tình trạng nâng giá tài sản góp vốn theo loại hình liên doanh mang lại sự thiệt hại cho cả 3 đối tượng là phía liên doanh góp vốn Việt Nam, chính phủ Việt Nam và cả người tiêu dùng Việt Nam. Bên liên doanh Việt Nam bị thiệt trong phần vốn góp, làm cho tỷ lệ góp vốn nhỏ lại; Chính phủ Việt Nam bị thất thu thuế; còn người tiêu dùng Việt Nam phải tiêu dùng sản phẩm với giá cả đắt hơn giá trị thực tế của sản phẩm.

Do nâng giá trị tài sản góp vốn nên tỷ lệ vốn cao hơn phía Việt Nam, vì vậy bên đối tác nước ngoài thường sẽ nắm quyền kiểm soát và điều hành DN. Đối tác nước ngoài sẽ điều hành công ty theo mục đích của họ để cho tình hình thua lỗ kéo dài và bên liên doanh Việt Nam không đủ tiềm lực tài chính để tiếp tục hoạt động đành phải bán lại phần vốn góp và hàng loạt các công ty liên doanh trở thành công ty 100% vốn nước ngoài.

  1. Chuyển giá thông qua chuyển giao công nghệ

Ngoài việc nâng giá trị tài sản vốn góp khi tiến hành liên doanh thì các công ty đa quốc gia còn thực hiện việc chuyển giá thông qua hình thức chuyển giao công nghệ và thu phí tiền bản quyền, đây là một loại chi phí chiếm tỷ trọng lớn do khấu hao giá trị tài sản cố định vô hình. Một ví dụ điển hình cho hình thức chuyển giá này xảy ra tại Công ty Liên doanh Nhà máy Bia Việt Nam. Khi đi vào hoạt động sản xuất kinh doanh thì tình trạng kinh doanh của công ty bị thua lỗ kéo dài qua các năm, nguyên nhân chủ yếu là do phải trả chi phí bản quyền quá cao và tăng dần qua các năm. Trong tình hình công ty liên doanh thường xuyên thua lỗ, phía liên doanh Việt Nam chịu ảnh hưởng nặng nề nhưng ngược lại phía liên doanh nước ngoài vẫn không ảnh hưởng gì vì họ vẫn nhận đủ tiền bản quyền từ nhãn hiệu và tiền bản quyền lại có xu hướng ngày càng tăng.

Trong các dự án đầu tư nước ngoài trực tiếp vào Việt Nam, một số công nghệ đã rất lỗi thời và được bán tự do không thông qua việc đăng ký với Bộ Khoa Học và Môi Trường. Điều này đã dẫn đến tình trạng là Việt Nam vẫn đang sử dụng công nghệ cũ, lỗi thời trên thế giới. Hậu quả là một mặt gây ảnh hưởng môi trường, đồng thời phía Việt Nam phải trả phí bản quyền chuyển giao công nghệ.

  1. Chuyển giá thông qua kê tăng giá nguyên vật liệu và chi phí đầu vào

Thủ thuật chuyển giá phổ biến của các công ty đa quốc gia là việc kê giá nguyên liệu đầu vào rất cao, đồng thời tìm mọi cách khai tăng chi phí quảng cáo, khuyến mãi nhằm triệt tiêu lợi nhuận. So với các DN trong nước cùng ngành nghề có thể thấy chi phí sản xuất của các công ty đa quốc gia thường cao bất thường.

Để có thể điều chỉnh kết quả kinh doanh của DN lãi thành lỗ thông qua hình thức chuyển giá, các công ty đa quốc không thể làm riêng lẻ mà hoạt động trong cùng tập đoàn hoặc liên kết thành từng nhóm. Từ đó các đơn vị này tự dàn xếp giá với nhau thông qua các giao dịch liên kết nhằm tìm kiếm thêm lợi nhuận mà không phải bỏ thêm vốn hay mở rộng sản xuất. Với phương thức sử dụng giá giao dịch nội bộ hay còn gọi là giao dịch liên kết, các tập đoàn cũng giảm đi tổng nghĩa vụ thuế trên phạm vi toàn cầu nhằm tăng lợi nhuận sau thuế.

Minh họa cho trường hợp này là trường hợp chuyển giá xảy ra tại Công ty Hualon Corporation, vốn 100% vốn từ Malaysia, Đài Loan-British Virgin Island, chuyên sản xuất sợi và dệt vải. Vào Việt Nam từ năm 1993, liên tục gần 20 năm, Hualon đều báo lỗ. Tính đến cuối năm 2010, công ty này đã lỗ lũy kế tới hơn 1.000 tỷ đồng. Nguyên nhân gây lỗ được công ty này kê khai với cơ quan thuế chủ yếu ở việc phải đầu tư dây chuyền thiết bị chuyên dụng giá đắt, mua nguyên vật liệu đầu vào cao, trong khi giá bán không đủ bù đắp chi phí. Cụ thể công ty Hualon kê khai đã nhập khẩu 1 bộ dây chuyền dệt vải từ bên liên kết nước ngoài, với giá gần 16 triệu USD.

Tuy nhiên, sau đó, bộ dây chuyền dệt vải này lại được bán cho một công ty khác nhưng với giá thấp hơn tới 40 lần, khoảng 400.000 USD, với lý do không có nhu cầu sử dụng nên công ty thanh lý tài sản. …

Đặc biệt trường hợp chuyển giá gần đây nhất xảy ra tại công ty TNHH Metro Cash & Carry Việt Nam (Metro Việt Nam).Thủ đoạn của Metro Việt Nam là thực hiện giao dịch liên kết với công ty mẹ (Metro Đức). Số tiền truy thu được xác định do chuyển giá lên đến trên 335 tỷ đồng trong tổng số hơn 500 tỷ đồng tiền thuế bị truy thu. Hình thức chuyển giá của Metro được cơ quan thuế xác định do khai tăng khoản chi phí nhượng quyền thương mại cho Công ty Metro AG (Đức) số tiền 7.5 tỉ đồng năm 2012-2013; Metro Việt Nam đã cố tình không đăng ký hoạt động nhượng quyền thương mại với Bộ Công thương nhưng vẫn đưa vào hạch toán chi phí này với số tiền 245 tỷ đồng.

Metro Việt Nam nộp thay nhà thầu nước ngoài năm 2012 – 2013 đối với khoản chi lương, thưởng và phụ cấp cho các chuyên gia, lãnh đạo nước ngoài 62 tỷ đồng. Còn lại là các chi phí khác vượt mức qui định như chi phí dự phòng giảm giá hàng tồn kho, chi phí trích lập dự phòng nợ phải thu khó đòi chưa đảm bảo điều kiện thủ tục…

  1. Chuyển giá nhằm mục đích chiếm lĩnh thị trường

Các công ty đa quốc gia khi đi vào đầu tư kinh doanh tại một quốc gia thì thường thích liên doanh với một công ty nội địa hơn là vào đầu tư thẳng là công ty 100% vốn nước ngoài. Nguyên nhân là các công ty đa quốc gia này muốn sử dụng hệ thống phân phối và thị phần có sẵn của các công ty nội địa. Sau một thời gian liên doanh thì các công ty đa quốc này sẽ dùng các thủ thuật khác nhau, trong đó có thủ thuật chuyển giá để đẩy công ty nội địa ra và chuyển công ty liên doanh thành công ty 100% vốn nước ngoài. Điều này đã xảy ra tại công ty P&G Việt Nam và các công ty liên doanh Coca Cola Việt Nam.

  1. Chuyển giá thông qua chênh lệch thuế suất

Các trường hợp chuyển giá được xem xét ở trên là chuyển giá dựa vào sự chênh lệch thuế suất thuế TNDN giữa các quốc gia.

Cá công ty đa quốc gia sẽ lập công ty mẹ hoặc công ty con ở các quốc gia có thuế suất thấp, công ty tại Việt Nam sẽ bán sản phẩm cho công ty tại các quốc gia này với giá bằng giá gốc để tránh nộp thuế tại Việt Nam. Sau đó bên mua sẽ bán lại cho bên thứ ba thu lãi. Do thuế TNDN tại những quốc gia nơi công ty trú đóng bằng 0 hoặc ở mức rất thấp nên công ty đa quốc gia không phải đóng thuế hoặc thuế rất thấp.

Ví dụ: Với mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận, một DN Hoa Kỳ có thể thành lập một đơn vị kinh doanh ở Singapore do thuế suất thuế TNDN thấp, đồng thời xây dựng nhà máy sản xuất ở Việt Nam do các điều kiện môi trường ít khắt khe và lao động rẻ hơn.Dựa và hiệp định tránh đánh thuế hai lần nên DN sẽ chọn Singapore để nộp thuế 17% thay vì 22% ở Việt Nam hay khoảng 40% ở Hoa Kỳ bằng cách khai khống chi phí đầu vào nhập khẩu và hạ thấp giá bán đầu ra của nhà máy ở Việt Nam.Kết quả, Việt Nam sẽ bị thất thoát một khoản tiền thuế rất lớn vào NSNN.

  1. Chuyển giá ở DN nội địa

Lợi dụng chính sách ưu đãi thuế của nhà nước, không ít tập đoàn kinh tế trong nước đã thành lập một số công ty con hoạt động tại nhiều địa bàn khác nhau để chuyển lợi nhuận trước thuế từ nơi không được ưu đãi thuế sang nơi được ưu đãi thuế hoặc chuyển lợi nhuận trước thuế từ DN có lãi sang DN bị lỗ thông qua chuyển giao sản phẩm và cung cấp dịch vụ giữa các bên không theo giá thị trường để giảm thiểu nghĩa vụ thuế của cả tập đoàn.

Hiện tại, tình trạng chuyển giá xảy ra khá phổ biến ở lĩnh vực khai thác mỏ. Nhiều đơn vị khai thác mỏ thành lập 2 công ty độc lập, một công ty chuyên khai thác và một công ty chuyên lưu thông. Công ty khai thác bán sản phẩm cho công ty lưu thông với giá chỉ bằng một nửa giá thị trường khiến Nhà nước mất một nửa thuế tài nguyên, thuế thu nhập doanh nghiệp và nhiều loại thuế, phí khác.

Lĩnh vực kinh doanh dịch vụ. Đặc biệt là kinh doanh khách sạn, lưu trú qua đêm cung cấp các dịch vụ ăn uống, vui chơi, giải trí. DN hoạt động trong những lĩnh vực này thường khai giá thuê phòng lưu trú thấp hơn thực tế, phần chênh lệch giữa giá thu thực tế và giá khai báo được chuyển cho công ty lữ hành. Quảng Ninh hiện có khoảng 80 DN kinh doanh du lịch với 500 tàu du lịch đưa đón khách tham quan Vịnh Hạ Long, trong đó có 160 tàu có dịch vụ lưu trú qua đêm trên Vịnh Hạ Long.

Cục Thuế Quảng Ninh cho biết, khách lưu trú qua đêm phải mua vé với giá 100-120 USD nhưng DN chỉ khai giá 40-60 USD, khiến hàng năm ngân sách bị thất thu không nhỏ từ hoạt động này.

Kết luận

Trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam hiện nay, vấn đề chuyển giá đang trở thành vấn nạn lớn đối với công tác quản lý nhà nước nói chung và quản lý thu thuế của ngành thuế nói riêng. Chuyển giá là hành vi cần phải được ngăn chặn kịp thời, vì gây ra sự bất bình đẳng trong thực hiện nghĩa vụ thuế dẫn đến thất thu ngân sách nhà nước, tạo ra môi trường cạnh tranh thiếu lành mạnh cũng như gây ra thiệt hại không nhỏ cho người tiêu dùng trong nước. Các giải pháp ngăn chặn hành vi chuyển giá trên cũng cần được áp dụng đồng bộ và phù hợp với từng giai đoạn phát triển của nền kinh tế

Tác giả: Nguyễn Thị Khánh Vân – Khoa Kế toán, Đại học Duy Tân
Công ty dịch vụ kế toán Hà Nội
Chuyên cung cấp các loại dịch vụ kế toán như : 

Hotline: Mr Quân 0974 975 029 – 0941 900 994 Hỗ trợ: 24/7
By quandao05 Posted in 1112

Phân biệt thuế, phí, lệ phí

Thuế là một khoản nộp bắt buộc mà các thể nhân và pháp nhân có nghĩa vụ phải thực hiện đối với Nhà nước, phát sinh trên cơ sở các văn bản pháp luật do Nhà nước ban hành, không mang tính chất đối giá và hoàn trả trực tiếp cho đối tượng nộp thuế. Vậy nó có điểm khác gì so với phí và lệ phí?

chi-phi-lai-vay

Thuế là khoản đóng góp bắt buộc theo quy định của pháp luật của các cá nhân và pháp nhân đối với Nhà nước không mang tính đối giá và hoàn trả trực tiếp.

Lệ phí là khoản thu vừa mang tính chất phục vụ cho đối tượng nộp lệ phí về việc thực hiện một số thủ tục hành chính vừa mang tính chất động viên sự đóng góp cho ngân sách Nhà nước.

Phí là khoản thu mang tính chất bù đắp chi phí thường xuyên hoặc bất thường như phí về xây dựng, bảo dưỡng, duy tu của Nhà nước đối với những hoạt động phục vụ người nộp phí.

Thuế và lệ phí, phí đều là nguồn thu cho ngân sách Nhà nước và đều mang tính pháp lý nhưng giữa chúng có sự khác biệt như sau:

* Xét về mặt giá trị pháp lý

Thuế có giá trị pháp lý cao hơn lệ phí, phí. Thuế được ban hành dưới dạng văn bản pháp luật như: Luật, Pháp lệnh do Quốc hội và ủy ban Thường vụ Quốc hội thông qua. Trình tự ban hành một Luật thuế phải tuân theo một trình tự chặt chẽ.

Trong khi đó lệ phí, phí được ban hành đưới dạng Nghị định, Quyết định của chính phủ; Quyết định của các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ; Nghị quyết của hội đồng nhân dân cấp tỉnh.

* Xét về mục đích và mức độ ảnh hưởng đối với nền kinh tế – xã hội

Thuế có ba tác dụng lớn:

– Tạo nguồn thu lớn cho ngân sách Nhà nước.

– Ðiều chỉnh các hoạt động sản xuất, kinh doanh, quản lý và định hướng phát triển kinh tế.

– Ðảm bảo sự bình đẳng giữa những chủ thể kinh doanh và công bằng xã hội.

Qua đó chúng ta thấy thuế có tác động lớn đến toàn bộ qúa trình phát triển kinh tế – xã hội của một quốc gia, đồng thời thuế là một bộ phận rất quan trọng cấu thành chính sách tài chính quốc gia.

Trong khi đó lệ phí, phí không có những tác dụng nói trên, nó chỉ có tác dụng tạo nguồn thu cho ngân sách Nhà nước. Hơn nữa, việc tạo nguồn này không phải dùng đáp ứng nhu cầu chi tiêu mọi mặt của Nhà nước, mà trước hết dùng để bù đắp các chi phí hoạt động của các cơ quan cung cấp cho xã hội một số dịch vụ công cộng như: dịch vụ công chứng, dịch vụ đăng ký quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng tài sản, dịch vụ hải quan…

Ngoài dấu hiệu là thuế được đảm bảo thực hiện bằng sự cưỡng chế của Nhà nước, thuế còn được phân biệt với lệ phí, phí ở chổ các cá nhân và pháp nhân có nghĩa vụ nộp thuế cho Nhà nước nhưng không trên cơ sở được hưởng những lợi ích vật chất tương ứng mang tính chất đối giá. Trong khi đó hình thức lệ phí, phí và công trái nói chung mang tính tự nguyện và có tính chất đối giá. Tính bắt buộc của lệ phí và phí chỉ xảy ra khi chủ thể nộp lệ phí, phí thừa hưởng trực tiếp những dịch vụ do Nhà nước cung cấp.

Bên cạnh đó, thuế không mang tính hoàn trả trực tiếp cho đối tượng nộp thuế. Tính chất không hoàn trả trực tiếp của thuế thể hiện ở chổ Nhà nước thu thuế từ các cá nhân và pháp nhân trong xã hội nhưng không bị ràng buộc bởi trách nhiệm phải hoàn trả lại cho người nộp. Người nộp thuế suy cho cùng sẽ nhận được các lợi ích vật chất từ việc sử dụng các dịch vụ công cộng do Nhà nước sử dụng các khoản chi của ngân sách Nhà nước để thực hiện các chính sách kinh tế xã hội chung cho cả cộng đồng. Tuy nhiên, giá trị phần dịch vụ đó không nhất thiết tương đồng với khoản tiền thuế mà họ đã nộp cho Nhà nước. Tính chất này của thuế cho phép chúng ta phân biệt thuế với lệ phí, phí và các khoản thu mà Nhà nước tập trung vào ngân sách Nhà nước nhưng ràng buộc trách nhiệm hoàn trả cho đối tượng nộp dưới các hình thức như vay nợ, tạm ứng cho ngân sách Nhà nước.

* Xét về tên gọi và mục đích

Mục đích của từng loại lệ phí rất rõ ràng, thường phù hợp với tên gọi của nó. Nói một cách chính xác hơn, tên gọi của loại lệ phí nào phản ánh khá đầy đủ mục đích sử dụng loại lệ phí đó.

Mỗi một Luật thuế đều có mục đích riêng. Tuy nhiên, đa số các sắc thuế có tên gọi không phản ánh đúng mục đích sử dụng, mà thường phản ánh đối tượng tính thuế.

Nói chung mục đích của việc sử dụng của các loại thuế thường là tạo nguồn qũy ngân sách Nhà nước nhằm đáp ứng nhu cầu chi ngân sách Nhà nước, thực hiện chức năng quản lý xã hội của Nhà nước./.
Công ty dịch vụ kế toán Hà Nội
Chuyên cung cấp các loại dịch vụ kế toán như : 

Hotline: Mr Quân 0974 975 029 – 0941 900 994 Hỗ trợ: 24/7
By quandao05 Posted in 1112

Thông tư số 133/2016/TT-BTC Hướng dẫn chế độ kế toán doanh nghiệp nhỏ và vừa thay thế quyết định số 48/2006/QĐ-BTC

Thông tư số 133/2016/TT-BTC Hướng dẫn chế độ kế toán doanh nghiệp nhỏ và vừa thay thế quyết định số 48/2006/QĐ-BTC

Ngày 26 tháng 8 năm 2016, Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư số 133/2016/TT-BTC hướng dẫn Chế độ kế toán doanh nghiệp Nhỏ và vừa thay thế Quyết định số 48/2006/QĐ-BTC.

Chế độ kế toán áp dụng cho doanh nghiệp nhỏ và vừa (SME) ban hành theo Quyết định 48/2006/QĐ-BTC đến nay đã được 10 năm, hiện đã bộc lộ một số hạn chế và cần phải thay đổi. Chế độ kế toán cho SME lần này dựa trên nền của Chế độ kế toán doanh nghiệp ban hành theo Thông tư 200/2014/TT-BTC và được sửa đổi, điều chỉnh cho đơn giản hơn.

Chế độ kế toán mới cho SME còn có phần hướng dẫn riêng cho doanh nghiệp siêu nhỏ theo hướng đơn giản nhất có thể, có hướng dẫn cho doanh nghiệp không đáp ứng giả định hoạt động liên tục (khi rơi vào tình trạng ngừng hoạt động do giải thể, phá sản…). Có thể nói, Chế độ kế toán SME lần này có nhiều đổi mới mà một trong những tư tưởng chính là lấy doanh nghiệp, đối tượng áp dụng làm trung tâm, ưu tiên mục đích quản trị doanh nghiệp hơn mục đích quản lý Nhà nước. Tổng quan những nét chính về Chế độ kế toán mới áp dụng cho SME lần này như sau:

chi-phi-lai-vay

  1. Đổi mới cách tiếp cận chính sách

Chúng ta đều biết cách tiếp cận chính sách ảnh hưởng rất lớn thực tiễn. Nếu các nhà hoạch định chính sách đặt nặng mục đích phòng gian ngừa dối thì chính sách ắt phải dựng lên một số rào cản và dẫn đến hệ lụy không mong muốn cho những doanh nghiệp làm ăn đàng hoàng, đứng đắn. Tuy nhiên chúng tôi không chọn cách tiếp cận này mà ngược lại chúng tôi cho rằng “nhân tri sơ tính bản thiện”, chính sách cần ưu tiên tạo điều kiện thuận lợi tối đa cho những doanh nghiệp kinh doanh đúng pháp luật hơn là dựng lên những quy định mang tính trói buộc để phòng ngừa những đối tượng cố ý lợi dụng chính sách để gian lận. Các hành vi vi phạm pháp luật đã có chế tài của pháp luật.

  1. Đề cao tính khả thi áp dụng trong thực tế doanh nghiệp

Một chính sách muốn đi vào cuộc sống cần phải mang tính khả thi, phù hợp với thực tiễn. Vì vậy, tiếp tục sự đổi mới của Thông tư 200/2014/TT-BTC, Chế độ kế toán SME lần này mang tính cởi mở, linh hoạt cao, đưa ra nhiều lựa chọn cho doanh nghiệp, như:

– Chế độ kế toán chủ yếu quy định đến TK cấp 1, chỉ một số ít TK chi tiết đến cấp 2, mỗi tài khoản chỉ phản ánh một nội dung chứ không có riêng TK ngắn hạn, dài hạn. Doanh nghiệp được tự chi tiết và theo dõi ngắn hạn, dài hạn hoặc mở các tài khoản chi tiết theo yêu cầu quản lý của mình;

– Dỡ bỏ toàn bộ sự bắt buộc đối với chứng từ và sổ kế toán. SME sẽ được tự xây dựng hệ thống chứng từ và sổ kế toán để đáp ứng yêu cầu quản trị, điều hành phù hợp với đặc thù hoạt động của mình miễn là đáp ứng được các yêu cầu của Luật kế toán;

– Chế độ kế toán chỉ quy định về nguyên tắc kế toán mà không quy định chi tiết các bút toán. Bằng cách vận dụng nguyên tắc kế toán, SME sẽ được tự quyết định các bút toán ghi sổ sao cho phù hợp nhất với quy trình luân chuyển chứng từ và thói quen của mình miễn là trình bày BCTC đúng quy định. Đối với các SME không thể tự vận dụng nguyên tắc kế toán để ghi sổ (lập bút toán định khoản) thì có thể tham khảo các sách hướng dẫn nghiệp vụ;

– SME được tự lựa chọn đồng tiền ghi sổ kế toán khi đáp ứng được các tiêu chí Chế độ quy định;

– SME được tự quyết định ghi hoặc không ghi doanh thu từ các giao dịch nội bộ mà không phụ thuộc chứng từ xuất ra là hóa đơn GTGT hay phiếu xuất kho kiêm vận chuyển nội bộ;

– Được tự quy định cho đơn vị hạch toán phụ thuộc ghi nhận khoản vốn nhận từ doanh nghiệp là nợ phải trả hoặc vốn chủ sở hữu;

– Được lựa chọn biểu mẫu BCTC theo tính thanh khoản giảm dần hoặc phân biệt ngắn hạn, dài hạn theo truyền thống…

  1. Tách biệt kế toán và thuế, hướng đến phục vụ nhu cầu quản trị, điều hành doanh nghiệp

Lâu nay chúng ta hay quan niệm doanh thu, chi kế toán phải giống doanh thu, chi phí tính thuế hoặc việc xuất hóa đơn phải đi kèm với việc ghi nhận doanh thu. Tuy nhiên cần biết rằng mục đích của kế toán khác với mục đích của thuế do đó trong rất nhiều trường hợp thời điểm ghi nhận doanh thu, chi phí kế toán khác với thời điểm kê khai thuế, việc ghi nhận doanh thu không nhất thiết phải bằng số ghi trên hóa đơn hoặc không phụ thuộc vào việc có xuất hóa đơn hay không. Một số ví dụ về sự khác biệt giữa kế toán và thuế, như:

– Doanh nghiệp mua ô tô dưới 9 chỗ ngồi trị giá 2 tỉ đồng, chi phí khấu hao kế toán là 2 tỉ nhưng chi phí khấu hao tính thuế tối đa là 1,6 tỉ;

– Thu trước tiền bán bất động sản, doanh nghiệp phải xuất hóa đơn và tạm nộp thuế TNDN 1% trên số tiền nhận trước nhưng do chưa bàn giao nhà nên doanh nghiệp chưa được ghi nhận doanh thu;

– Mua vé máy bay, phòng vé phải xuất hóa đơn nhưng hành khách chưa bay thì Hãng hàng không chưa ghi nhận doanh thu;

– Bán hàng đại lý đúng giá hưởng hoa hồng thì doanh thu là hoa hồng nhưng hóa đơn xuất ra là toàn bộ số tiền thu được của sản phẩm, hàng hóa;

– Bán sản phẩm sản xuất thử doanh nghiệp phải xuất hóa đơn nhưng số tiền thu được không ghi doanh thu mà ghi giảm trừ chi phí sản xuất thử;

Lần đầu tiền Chế độ kế toán SME có những tuyên ngôn mạnh mẽ về sự khác biệt giữa doanh thu, chi phí, lợi nhuận kế toán so với doanh thu tính thuế (GTGT, TNDN), chi phí được trừ và thu nhập chịu thuế. Chúng tôi hiểu rằng để xóa bỏ thói quen đã in sâu vào tiềm thức của những người làm kế toán là điều không dễ dàng nhưng nếu bây giờ không đặt viên gạch đầu tiên thì mãi mãi chúng ta sẽ không có một ngôi nhà.

  1. Kế toán không phải là câu chuyện Nợ – Có, cần tách biệt kỹ thuật ghi chép trên sổ kế toán và kỹ thuật trình bày BCTC

Sản phẩm cuối cùng của kế toán là thông tin được công bố trên BCTC. Người ta chỉ công bố BCTC chứ không ai công bố sổ kế toán. Vì vậy, mấu chốt là các thông tin trên BCTC phải trung thực, minh bạch và được trình bày nhất quán chứ không phải việc ghi Nợ hay Có trên các bút toán. Bạn có thể áp dụng nhiều kỹ thuật kế toán khác nhau (bút toán có thể khác nhau) nhưng cuối cùng thông tin của các giao dịch và sự kiện tương tự được trình bày trên BCTC phải giống nhau.

Ngoài ra cần hiểu rằng một tài khoản có thể cần chi tiết để trình bày trên nhiều chỉ tiêu của BCTC hoặc ngược lại, một chỉ tiêu của BCTC được lập căn cứ từ nhiều tài khoản, ví dụ:

– Chỉ tiêu phải thu khác gồm các nội dung phải thu về cho vay, phải thu nội bộ, phải thu khác, được lập căn cứ từ các TK 1288, 136, 138

– TK 128 – Đầu tư nắm giữ đến ngày đáo hạn gồm các khoản: Tiền gửi có kỳ hạn gốc dưới 3 tháng, đầu tư trái phiếu và cho vay. Khoản tiền gửi dưới 3 tháng được trình bày là tương đương tiền; Khoản đầu tư trái phiếu trình bày là đầu tư tài chính; Khoản cho vay trình bày là phải thu;

  1. Coi trọng bản chất hơn hình thức và tên gọi giao dịch

Chúng ta thường quen việc kế toán theo tên gọi của giao dịch, ví dụ như khuyến mại, quảng cáo biếu tặng, hợp đồng hợp tác kinh doanh… mà không chú trọng đến bản chất của giao dịch và cũng vì lẽ này mà người làm công tác kế toán nhiều khi cảm thấy rất khó phân biệt phương pháp kế toán của các giao dịch. Tuy nhiên, hãy hình dung khi bạn đi trên đường và được phát miễn phí một sản phẩm, vậy bạn gọi đó là quảng cáo, khuyến mại hay biếu tặng? Cho dù bạn gọi giao dịch này là gì thì phương pháp kế toán cũng không thể khác nhau do bản chất là bạn được hưởng miễn phí một sản phẩm mà không kèm theo bất cứ điều kiện ràng buộc nào.

Chế độ kế toán SME lần này sẽ hướng người làm công tác kế toán đến việc nhận biết giao dịch trước khi áp dụng phương pháp kế toán và cách làm này sẽ giúp chúng ta dễ tiếp cận Chế độ kế toán hơn. Thực tế phương pháp kế toán đơn giản hay phức tạp không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của bất cứ ai, những người soạn thảo Chế độ kế toán. Phương pháp kế toán phụ thuộc vào bản chất giao dịch và cách thức giao dịch vận hành. Vì vậy, người làm kế toán giỏi không phải là người thuộc Nợ – Có tốt mà là người nắm được nguyên tắc kế toán, bản chất giao dịch và biết vận dụng nguyên tắc kế toán phù hợp với từng giao dịch.

  1. Tiếp cận gần hơn thông lệ và Chuẩn mực quốc tế

Nền kinh tế của chúng ta đang phát triển và ngày càng hội nhập với nền kinh tế thế giới. Vì vậy, Chuẩn mực kế toán và Chế độ kế toán cũng phải tiếp cận gần hơn với thông lệ và Chuẩn mực quốc tế. Lần này Chế độ kế toán SME đã đưa vào một số nội dung mang tính thông lệ thế giới như ghi nhận doanh thu tương ứng với nghĩa vụ thực hiện, đánh giá tổn thất khoản cho vay và bất động sản đầu tư, phân loại chứng khoán kinh doanh và đầu tư nắm giữ đến ngày đáo hạn…
Công ty dịch vụ kế toán Hà Nội
Chuyên cung cấp các loại dịch vụ kế toán như : 

Hotline: Mr Quân 0974 975 029 – 0941 900 994 Hỗ trợ: 24/7
By quandao05 Posted in 1112